Micronews

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2008

Sự sụp đổ của một nền kinh tế thật sự

Cuộc khủng hoảng tài chính ngày càng có xu hướng tồi tệ hơn với khả năng hệ thống thanh toán quốc tế sẽ bị gián đoạn. Nó ảnh hưởng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế thế giới và mức độ còn nghiêm trọng hơn cả thời kỳ Đại suy thoái.

Nền kinh tế xuống dốc sẽ mang lại lợi ích cho đối tượng nào? (Ảnh: Corbis)


Những đề xuất của giới ngân hàng về một chương trình “cứu trợ” với cái tên Chương trình giải trừ những tài sản xấu (TARP) không phải là một “giải pháp” cho cuộc khủng hoảng mà còn là một “nguyên nhân” của một cuộc sụp đổ lớn hơn nữa.

TARP khiến cuộc khủng hoảng lún sâu hơn. (Ảnh: Corbis)

Những kế hoạch “giải cứu” góp phần vào việc kéo dài hơn tiến trình bất ổn định cấu trúc tài chính. Nó chuyển một lượng lớn tiền đóng thuế của người dân vào tay các tổ chức tài chính tư nhân, khiến các món nợ công thay đổi liên tục và tập trung quyền lực vào ngân hàng.

Chưa hết, số tiền cứu trợ được các tập đoàn tài chính sử dụng để đảm bảo việc thâu tóm những tập đoàn khác cả trong lĩnh vực tài chính và cả nền kinh tế.

Cung vượt cầu

Nền kinh tế thật sự đang trong khủng hoảng. Tỷ lệ thất nghiệp đang ngày một tăng dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng về tiêu dùng của người dân, cũng như các hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Với những chính sách kinh tế vĩ mô mới, cuộc khủng hoảng ngày càng có xu hướng trầm trọng hơn khi cung vượt quá cầu.

Các công ty kinh doanh không thể bán sản phẩm bởi phải cắt giảm chi phí lao động, nghĩa là nhân viên bị sa thải và hoạt động sản xuất bị ngưng trệ. Với lợi nhuận “còm cõi” của mình, họ không có đủ khả năng tiếp tục sản xuất.

Số lượng hàng hoá tồn kho ngày càng lớn. Nền sản xuất theo đó sụp đổ, việc cung cấp hàng hoá giảm do hàng loạt các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp buộc bị đóng cửa.

Do các nhà máy đóng cửa, thêm nhiều công nhân bị thất nghiệp, từ đó dẫn đến tình trạng nghèo đói và sự sụt giảm về tiêu chuẩn sống trên phạm vi toàn thế giới.

Đó là hệ quả của một nền kinh tế lao động rẻ mạt đang suy yếu, được coi là đặc điểm chủ yếu ở các nhà máy có chi phí lao động thấp ở những nước thuộc thế giới thứ 3. Cuộc khủng hoảng thậm chí dẫn tới sự bần cùng hoá ở đại đa số các bộ phận dân cư ở những nước được gọi là phát triển (bao gồm cả những tầng lớp trung lưu).

Ở Mỹ, Canada và các nước phương Tây, toàn bộ khu vực công nghiệp đang “ngàn cân treo sợi tóc”.

Nước Mỹ đang phải đối mặt với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và tài chính. Trước đó, bắt đầu từ những năm 1980 - nước Mỹ vận hành theo chủ nghĩa Reagan - Thatcher, các công ty khu vực và địa phương, trang trại gia đình và doanh nghiệp nhỏ đã bị thay thế và phá sản.

Ngược lại, sự bùng nổ của các cuộc thâu tóm và sáp nhập những năm 1990 đã dẫn đến một sự hợp nhất và cho ra đời các tập đoàn kinh tế lớn, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.

Sự đổ vỡ các tập đoàn tài chính

Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển gần đây, việc tập trung quyền lực vào ngân hàng không có lợi cho những tập đoàn lớn.

Điều nhận thấy dễ dàng ở trong giai đoạn đặc biệt của cuộc khủng hoảng đó là khả năng các tập đoàn tài chính lớn (thông qua việc kiểm soát tín dụng của mình) không chỉ tàn phá nền sản xuất hàng hoá và các dịch vụ mà còn làm suy yếu và phá huỷ sự tồn tại của các tập đoàn kinh tế lớn của một nền kinh tế thật sự.

Sự đổ vỡ của các tập đoàn tài chính lớn đe dọa tới sự ổn định của nền kinh tế thật sự. (Ảnh: Corbis)

Không chỉ ở riêng lĩnh vực bất động sản và công nghiệp xây dựng, những nạn nhân của một cuộc đại khủng hoảng bất động sản, việc các công ty tuyên bố phá sản và những công ty ngấp nghé bờ vực phá sản có mặt ở tất cả mọi lĩnh vực chính của nền kinh tế như chế tạo, điện tử viễn thông, hàng không, du lịch…

Lấy đơn cử ví dụ từ nền kinh tế hàng đầu thế giới: Mỹ. Theo số liệu mới nhất, một trong ba đại gia sản xuất xe hơi của Mỹ, General Motors giảm 5.500 việc làm, thay vì 3.600 như đã tuyên bố trước đó. Giá cổ phiếu GM rớt 22,9%, mức thấp nhất kể từ 60 năm qua.

Theo số liệu của Cục Thống kê lao động Mỹ công bố tháng 11, chỉ trong tháng 10, đã có thêm 240.000 người mất việc. Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 6,1% tháng 9 lên 6,5% trong tháng 10. Tính từ đầu năm đến nay, Mỹ có thêm 1,2 triệu người mất việc.

Một vài trong số những công ty đang trên bờ vực phá sản là những tập đoàn có doanh thu và lợi nhuận khá cao. Câu hỏi quan trọng là: ai sẽ trở thành chủ sở hữu của các tập đoàn ấy nếu chúng bị phá sản?

Phá sản và tịch thu tài sản để thế nợ là một hoạt động quay vòng vốn. Việc cổ phiếu trên thị trường chứng khoán liên tục giảm điểm, rớt giá, ngay lập tức ảnh hưởng tới khả năng thanh toán nợ, vay và thương lượng lại các món nợ của những công ty này.

Những kẻ đầu cơ, quĩ đầu cơ đều thu được lợi từ những vụ sụp đổ. Họ khơi mào cho sự sụp đổ của những công ty đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán bằng cách bán khống và các hoạt động đầu cơ khác.

Một khi giới tài chính hợp nhất được vị trí của mình trong nền công nghiệp ngân hàng, các tập đoàn tài chính trong đó có cả JP Morgan Chase, Bank of America… sẽ sử dụng số tiền lãi từ trên trời rơi xuống mà họ thu được và số tiền cứu trợ thông qua TARP để mở rộng quyền kiểm soát của họ đối với nền kinh tế thật sự.

Bước tiếp theo sẽ là bao gồm việc chuyển đổi các tài sản có tính thanh khoản, cụ thể là tài sản trên giấy tờ (cổ phần) thành một cuộc thâu tóm các tài sản của nền kinh tế thật sự.

Có thể lấy ví dụ về trường hợp của nhà tỉ phú Warren Buffett. Ông là cổ đông chính của General Motors. Gần đây, khi thị trường cổ phiếu giảm trong tháng 10 và tháng 11, Buffett đã nâng số cổ phần của ông ở tập đoàn ConocoPhillips, bỏ qua mục tiêu Eaton Corp khi giá cổ phiếu của tập đoàn này trên thị trường chứng khoán NYSE giảm 62% so với giá trị cổ phiếu thời điểm tháng 12/2007.

Mục tiêu của những cuộc sáp nhập là một loạt những công ty trong ngành nghề dịch vụ và công nghiệp có doanh thu cao đang trên bờ vực phá sản hoặc cổ phiếu mất giá.

Chủ nhân của một nền kinh tế thật sự

Kết quả của những biến chuyển liên quan trực tiếp đến cuộc khủng hoảng tài chính nêu trên, là cấu trúc sở hữu tài sản của toàn bộ nền kinh tế thật sự suy yếu và lung lay.

Những tài sản trên giấy tờ được tích luỹ thông qua sự vận động thị trường chứng khoán được dùng để dành được quyền kiểm soát các tài sản của một nền kinh tế thật sự, thay thế cấu trúc sở hữu đang bị lung lay.

Những gì mà chúng ta đang phải đối mặt là một mối quan hệ không lấy gì là tốt đẹp giữa một nền kinh tế thật sự và ngành tài chính.

Khối tài chính không tạo ra được hàng hoá. Về cơ bản, họ chỉ có thể tạo ra tiền thông qua việc kiểm soát những giao dịch tài chính. Họ sử dụng những tiến trình giao dịch để thâu tóm những tập đoàn làm ăn chân chính của nền kinh tế thật sự - là những tập đoàn sản xuất ra hàng hoá và những dịch vụ phục vụ cho tiêu dùng dân dụng.

Thật chua xót là, những người sở hữu mới của nền công nghiệp là những kẻ đầu cơ. Họ trở thành người nắm giữ và kiểm soát nền kinh tế, thay thế không chỉ cấu trúc sở hữu đang yếu kém mà còn có quyền năng sắp xếp người quản lý các tập đoàn kinh tế lớn.

Emarketing.vn:Mai Trang-Vietnamnet (theo AxisofLogic)

Thế giới cong: Những hiểm nguy đang che giấu

Khi đưa ra khái niệm "thế giới phẳng", Thomas Friedman nhấn mạnh những hệ quả kinh tế tốt đẹp của toàn cầu hoá và viễn ảnh của một nền kinh tế mới của thế kỷ 21.

Đó là một nền kinh tế đang được san phẳng và trong đó một sân chơi toàn cầu đang trở nên công bằng hơn giữa các nước giàu nghèo, cùng với sự giảm đi ảnh hưởng của những nước kỹ nghệ tiên tiến, nhất là Mỹ.

Trái đất ngày càng lồi lõm

Thomas Friedman đã không nêu ra những hệ quả ít tốt đẹp hơn của toàn cầu hoá. Từ năm 2007, những dấu hiệu bất ổn của thị trường bất động sản và hệ thống tiền cho vay (subprimes) ở Mỹ đã hiện ra. Trong cuộc tranh luận giữa các chuyên gia kinh tế về nguyên nhân và hậu quả của sự phá sản của người mượn tiền mua nhà ở Mỹ trong mùa hè 2008, cuốn sách của David Smick có tựa "Thế giới lồi lõm. Những nguy hiểm che khuất cho nền kinh tế toàn cầu", với một tiểu tựa "Khủng hoảng vay bất động sản chỉ là điểm khởi đầu" , phát hành đúng lúc vào đầu tháng 9.2008, đã thu hút được sự chú ý rộng rãi của người đọc.

Smick - một cố vấn tài chính ở Washington - đã ghi nhận những hậu quả trái ngược trong nền kinh tế toàn cầu hoá: Sự phát triển nhanh chóng với hàng triệu người ở các nước đang phát triển thoát khỏi cảnh nghèo đói, nhưng cùng lúc hàng triệu công nhân ở các nước phát triển bị thất nghiệp. Cuộc khủng hoảng đang diễn ra cho thấy sự mong manh của kinh tế thế giới với một sân chơi hoàn toàn không phẳng và đầy cạm bẫy.

Smick đã phân tích chi tiết sự phát triển của thị trường tài chính trong những thập niên 1960-1990, và đặc biệt những cách làm ăn dối trá của các ngân hàng đầu tư và các quỹ đầu cơ (hedge fund) ở Mỹ trong thập kỷ vừa qua. Việc không ai kiểm soát được hoạt động của các công ty tài chính, ngân hàng, là mấu chốt của vấn đề! Không kiểm soát được vì không phải thiếu luật lệ, mà vì chính quyền Mỹ hiện nay không muốn làm, không can thiệp vào thị trường, để thị trường tự điều tiết.

Theo Smick, chúng ta đang sống trong một thế giới mà hàng ngàn tỉ USD có thể di chuyển trong vài giây, và số tiền khổng lồ đó nằm trong tay một số nhỏ người buôn bán, mỗi ngày đánh cá với lợi nhuận và rủi ro (với tất cả giới hạn của con người nói chung). Vì thế, cuộc khủng hoảng tài chính lần này ít nhất cũng trầm trọng hơn cách đây 80 năm.

Cải tổ lại kiến trúc hệ thống tài chính

Nói chung hệ thống tài chính thế giới hiện nay đang ở trong một thế giới ảo, dù có đổ tiền bao nhiêu vào (như 700 tỉ USD ở Mỹ, hơn 560 tỉ USD ở Trung Quốc,...) có thể cũng không dẫn đến những thay đổi cần thiết. Theo Smick cần phải cải tổ cả hệ thống kiến trúc cơ bản của tài chính thế giới. Cải tổ như thế nào? Dưới cái nhìn của một chuyên gia Mỹ, Smick cho rằng muốn giải quyết phải có một giới lãnh đạo toàn cầu có đủ bản lĩnh trả lời các câu hỏi sau: Đến mức độ nào sức mạnh của thị trường tài chính có thể chấp nhận được, và có thể nào giữ mãi một mô hình phát triển trong đó một số nước (như Trung Quốc) tích luỹ lượng hàng sản xuất khổng lồ và đổ vào nước Mỹ?

Hai tháng sau cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến trì trệ kinh tế, hầu như mọi người, kể cả nhưng người theo chủ nghĩa tân tự do cực đoan nhất, cũng đồng ý là phải tổ chức lại hệ thống ngân hàng, tài chính thế giới, và cần phải tăng cường kiểm soát hoạt động đầu tư, mậu dịch...

Nhưng tổ chức lại như thế nào đây? Những tranh luận tại hội nghi thượng đỉnh G20 vừa qua ở thủ đô Mỹ, cho thấy sự khó khăn của công việc này. Mỹ và nhiều nước khác cho rằng bộ máy kinh tế thị trường hiện nay "cơ bản là tốt", nên không cần phải thay đổi gì nhiều và chỉ cần tăng "dầu mỡ" bằng các cơ chế quốc tế kiểm soát để chạy tốt hơn. Quan điểm khác cho rằng sau mấy trăm năm, chủ nghĩa tư bản đã già cỗi, cạn ý, không còn phù hợp với thế kỷ 21, nên cần phải xây dựng lại chủ nghĩa tư bản từ tận gốc rễ. Vì trái đất ngày càng "lồi lõm", không dễ sớm chiều đi đến sự đồng thuận nào đó.

Nhìn chung, dù có những chương chưa thật sự thuyết phục và luôn có cái nhìn của một chuyên gia Mỹ, cuốn sách của David Smick: "The World is Curved: Hidden Dangers to the Global Economy" với nhiều thông tin và phân tích cơ bản, là cuốn sách nên đọc (đã được dịch ra tiếng Việt), cho những ai muốn hiểu những chuyển biến nhanh chóng đang diễn ra trong thị trường tài chính thế giới, và đang tác động mạnh mẽ đến đời sống của mỗi người chúng ta.

Economy.com.vn:Nguyễn Minh Thọ, GS, Trường Đại học Leuven - Bỉ (Lao Động cuối tuần Online)

Ngắm nhìn vẻ đẹp của khách sạn Taj Manhal Place Mumbai




Thứ Hai, 24 tháng 11, 2008

Tiếp thị hình ảnh Việt Nam bằng Resort


(Thứ Ba, 04/11/2008 - 5:41 PM)

Trong năm 2008, bằng nỗ lực tổ chức thành công sự kiện cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ, hình ảnh đất nước Việt Nam đang được biết đến là mảnh đất hòa bình, thân thiện và cao cấp. Đóng góp không nhỏ cho sự thành công đó, phải kể đến ngành Du lịch, đặc biệt là các khu nghỉ dưỡng cao cấp (Resort).

Resort là một khái niệm ngày càng trở nên quen thuộc đối với người dân Việt Nam. Những năm qua, Resort là nơi diễn ra các hội nghị lớn, các cuộc thi sắc đẹp tầm quốc gia và quốc tế. Resort là nơi nghỉ dưỡng cao cấp thường gắn với thiên nhiên và phong cảnh đẹp, được thiết kế hoàn hảo và dịch vụ chuyên nghiệp. Resort là nơi lui tới của những người thành đạt thưởng thức và khám phá cuộc sống thượng lưu. Resort cũng là nơi để một đất nước thể hiện bản sắc và tầm vóc của mình...

Với lợi thế bờ biển dài và đẹp, nằm ở vị trí trung tâm trong khu vực Đông Nam á và châu Á, Việt Nam có khả năng to lớn để phát triển ngành du lịch biển và có thể trở thành mảnh đất trù phú cho các khu nghỉ dưỡng cao cấp nhất khu vực.

Hiện nay, Việt Nam đã có hơn 200 khu resort và rất nhiều dự án lớn đang được triển khai. Trong đó, có những khu resort cao cấp 5 sao, do các tập đoàn lớn đầu tư và quản lý như Hideaway Ninh Van Bay, Evason Ana Mandara Nha Trang, Evason Ana Mandara Đà Lạt, Hideaway Con Dao (tập đoàn Six Senses), Furama Đà Nẵng (tập đoàn Furama), The Nam Hai (tập đoàn GMH); Life Heritage Resort Hội An, Life Wellness Resort Quy Nhơn và Blue Ocean Resort Phan Thiết...

Trong những năm qua, các khu resort của Việt Nam đã nhận được rất nhiều giải thưởng lớn trong và ngoài nước.

Furama Resort Đà Nẵng đã đạt được nhiều giải thưởng như: Khu nghỉ mát tốt nhất châu Á năm 2000 (Tạp chí Epicurean USA), Top Ten khách sạn châu Á năm 2001 (International Award for Tourist), Best Dream Hotel in Asia 2002 (tạp chí Esquire Hong Kong), khu nghỉ mát tốt nhất 5 năm liền (2000–2005) của Tạp chí Vietnam Economic Times và The Guide... Ngày 31/1/2006, ông Thorsten Buehmann, Tổng Giám đốc, Chủ tịch Tổ chức đánh giá tín nhiệm ngành du lịch “Seven Stars and Stripes” (trụ sở tại New York, Mỹ) đã chính thức trao giải thưởng dịch vụ tốt nhất cho Furama Resort Đà Nẵng.

Life Wellness Resort Quy Nhơn được tặng danh hiệu Khu spa tiêu biểu trong năm (Spa Retreat of the Year) vào năm 2007 của tạp chí Asia Spa, và Điểm đến có khu spa tốt nhất (Best Destination Spa) trong lễ trao giải thưởng SpaAsia Crystal năm 2006. Ngoài ra, Life Wellness Resort Quy Nhơn còn được báo Vietnam Economic Times trao giải thưởng Khu resort có phương pháp chăm sóc sức khỏe tốt nhất tại Việt Nam 2004 và 2005.

Sun Spa Resort đã dành được Giải thưởng “Excellent Services 2005” do Tạp chí The Guide bình chọn. Ana Mandara Resort (Nha Trang) nằm trong 12 resort tốt nhất thế giới thì được tạp chí du lịch nổi tiếng khu vực Bắc Mỹ là Condé Nast Traveller, xếp thứ 3 trong những resort tốt nhất khu vực châu Á năm 2004.

Tháng 2/2008 tạp chí TravelP + Leisure (Mỹ) đã dành cho khu Resort Nam Hải tại Hội An thuộc tập đoàn GMH nổi tiếng thế giới giải thưởng công trình du lịch có thiết kế đẹp của năm. Ngày 14/10/2008 vừa qua, The Nam Hai Hội An lại giành thêm giải thưởng khu nghỉ dưỡng tốt nhất châu Á do tập đoàn truyền thông TTG Asia trao tặng.

Resort Việt Nam đã được xếp hạng cùng các khách sạn và khu nghỉ mát như Grand Hotel Europe (Orient Express), St. Petersburg (Nga); Ritz Carlton, Philadenphia (USA); Grand Hotel Parco dei Principi (Italy); Emirates Palace, Abu Dhabi (UAE)...

Qua cổng thông tin điện tử Resort.com.vn, chúng ta còn biết đến hàng trăm khu resort cao cấp khác như Romana, PalmGarden, Vinpearl Land, Sunrise Catba, Tuần Châu, Vạn Chài Sầm Sơn, Bãi Lữ Nghệ An,… Đây là trang web đầu tiên tại Việt Nam giới thiệu toàn bộ thế giới resort phong phú và rất đáng tự hào, qua đó du khách có thể tìm kiếm, lựa chọn khu resort thích hợp vàbooking trực tuyến.

Resort là nơi hội tụ của tinh hoa và sự sáng tạo, nơi thể hiện tinh thần thân thiện và hội nhập của con người Việt Nam. Với hình thức quảng bá hiện đại và hệ thống trên Internet, hy vọng rằng sẽ có nhiều du khách tìm đến Việt Nam như một nơi du lịch nghỉ dưỡng tốt nhất thế giới.

Lê Hạnh - Theo Tờ Thế giới và Việt nam

http://www.tgvn.com.vn/printContent.aspx?ID=3820

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2008

Nhờ Internet, Obama có vị thế chính trị độc lập hơn

Biết tận dụng Internet để tự "rao bán" mình, Obama đã tạo nên vị thế độc lập hơn, giảm sức ép từ các nhóm lợi ích. Vai trò của đảng phái và báo giới trong bầu cử Mỹ đang được tái định vị và sẽ mờ nhạt đi. Một xu hướng mới cho bầu cử Mỹ đã bắt đầu với vị Tổng thống vừa đắc cử - ông Tom Fiedler, Hiệu trưởng trường Truyền thông, ĐH Boston (Mỹ) nhận định.



Ông Tom Fiedler và TBT VietNamNet Nguyễn Anh Tuấn trong cuộc giao lưu
trực tuyến ngày 10/11 (Ảnh: Lê Anh Dũng)


Vai trò của đảng phái và truyền thông truyền thống đang mờ đi

- Nhìn lại con đường của ông Obama, khởi đầu nan nhưng đã chiến thắng, không chỉ trước John McCain mà ngay trong đảng Dân chủ, ông Obama cũng đã thể hiện một tư duy tranh cử rất mới. Ông có thể phân tích những điểm đặc biệt nhất trong chiến dịch tranh cử của Obama?

Sự khác biệt ấy thể hiện trong một từ thôi: Internet. Ông Obama đã có một chiến dịch tranh cử không giống với bất cứ một chiến dịch tranh cử nào trước đây, và chỉ ra rằng các chiến dịch tranh cử từ nay về sau sẽ giống hệt như vậy.

10-15 năm trước đây, nếu bạn là một ứng cử viên Tổng thống, bạn phải có hai điều: sự ủng hộ trong đảng, vì các chính đảng lúc đó còn rất mạnh, họ quyết định ai sẽ là ứng cử viên và cung cấp tiền cho người đó tranh cử; và sự ủng hộ của giới truyền thông, vì các ứng cử viên phải nói chuyện với cử tri thông qua các phương tiện truyền thông. Một ứng cử viên thành công là khi họ có các đoạn phim quảng cáo được nhiều người xem, và được truyền thông hỗ trợ trong việc truyền tải thông điệp. Truyền thông ở đây chính là các mạng lưới truyền hình và các tờ báo in lớn.

Nhưng Obama đã chỉ ra rằng bạn không nhất thiết phải có 2 thứ đó. Tiền ông có được để tranh cử không có đồng nào là của đảng Dân chủ huy động cho. Ông ấy đã bỏ qua đảng Dân chủ để gây quỹ bằng những khoản đóng góp nhỏ từ hàng triệu người gửi trực tiếp đến cho ông thông qua Internet. Ông cũng không cần truyền thông hậu thuẫn mà tìm trực tiếp đến cử tri của mình thông qua Internet.

"Nếu bạn muốn biết ngay khi tất cả mọi người cùng biết ai sẽ là ứng cử viên Phó Tổng thống của tôi, bạn không cần một buổi họp báo, hãy gửi đến chiến dịch tranh cử của tôi số di động của bạn và bạn sẽ nhận được tin nhắn thông báo ngay lập tức không chậm chễ hơn bất cứ ai." Mọi người đều gửi số di động của họ. Obama đã có mối liên hệ trực tiếp với cử tri...

Nhưng điều thông minh nhất mà tôi thấy ông Obama đã làm, đó là khi ông dự định tuyên bố chọn Joe Biden làm người liên danh tranh cử, ông thông báo đến mọi người rằng ông sẽ công bố thông tin này qua tin nhắn điện thoại: Nếu bạn muốn biết ngay khi tất cả mọi người cùng biết ai sẽ là ứng cử viên Phó Tổng thống của tôi, bạn không cần một buổi họp báo, hãy gửi đến chiến dịch tranh cử của tôi số di động của bạn và bạn sẽ nhận được tin nhắn thông báo ngay lập tức không chậm chễ hơn bất cứ ai. Mọi người đều gửi số di động của họ.

Và thế là chẳng cần giới truyền thông, ông ấy đã có số di động để liên hệ trực tiếp với hàng triệu cử tri. Và điều đó giống như là Obama cầm máy lên và gọi thẳng cho bạn vậy. Bạn không cần bất cứ ai nói cho bạn biết ông ấy thông báo gì, bạn nhận được thông tin trực tiếp qua tin nhắn điện thoại. Nhờ vậy Obama đã có một cơ sở dữ liệu khổng lồ về số điện thoại di động của cử tri đế liên hệ trực tiếp không cần qua bất cứ phương tiện truyền thông nào.

Và thế là trong cuộc bầu cử này, vai trò của chính đảng đã giảm đi rất nhiều, và vai trò của các loại hình truyền thông truyền thống cũng giảm đi nhiều. Internet đã đem lại lợi thế vô cùng to lớn cho ứng cử viên biết tận dụng nó.

Internet cũng giúp ông ấy liên hệ trực tiếp với những người trẻ tuổi, những người không đọc báo, không xem TV, mà chỉ suốt ngày ở trên Internet, họ có những cộng đồng ảo như MySpace, Facebook và trò chuyện với nhau bằng tin nhắn. Obama đã đến với họ bằng điện thoại di động, bằng Internet và những người trẻ tuổi đã đi bầu nhiều hơn bất cứ cuộc bầu cử nào trước đây.

Internet đã thay đổi tất cả và Obama đã chứng minh đó là cách chiến thắng trong một cuộc bầu cử. Và khi đó chính đảng phải xem lại vai trò của mình, họ sẽ làm thế nào trong tương lai?

- Điều có có nghĩa là những điều ông viết trong nghiên cứu của mình về vai trò của Internet trong bầu cử Tổng thống ở Trung tâm Shorenstein năm ngoái giờ đã thành hiện thực?

Ông Obama sẽ có sự độc lập hơn trong các lựa chọn mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các nhóm lợi ích. (Ảnh: Corbis)

Tôi đã viết về vai trò của Internet trong giai đoạn đầu của chiến dịch tranh cử, nhưng càng về sau điều đó càng rõ ràng trong cuộc tổng tuyển cử. Tôi tin rằng, xu hướng đó sẽ tiếp tục từ nay về sau.

Các ứng cử viên Tổng thống trong tương lai sẽ không thể tranh cử theo cách cũ như Bill Clinton đã làm năm 1996 trước khi có Internet. Họ cũng không thể tiếp tục phụ thuộc vào các chính đảng và các phương tiện truyền thông truyền thống. Sự giao tiếp giờ đây phải diễn ra trên Internet.

Obama sẽ độc lập hơn với các nhóm lợi ích

- Giờ đây, khi mà ông Obama có thể độc lập với đảng Dân chủ, những chính sách của ông ấy sau này cũng có thể độc lập. Nhưng trong chính trường Mỹ luôn có những nhóm lợi ích có khả năng tác động đến các chính sách, như các tập đoàn lớn bỏ hàng đống tiền để vận động hành lang, không chỉ với chính phủ mà cả Thượng viện và Hạ viện. Hiện trạng này liệu có thể thay đổi dưới thời của ông Obama?

Chắc chắn điều này sẽ thay đổi. Vận động hành lang chỉ có tác dụng khi các tập đoàn lớn đóng góp nhiều tiền cho chính đáng để chi phí cho ứng cử viên. Nhưng Obama lại gây quỹ qua Internet, nghĩa là chẳng có tập đoàn nào ký cho ông ấy một tấm séc to tướng cả, mà là hàng nghìn hàng triệu người dân đóng góp cho ông ấy những khoản tiền nhỏ. Và số đông đó có ảnh hưởng hơn bất cứ chiều vận động hành lang nào.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Đó chính là một hình thức kinh doanh mới, “B to C – Business to Customer”, chứ không phải “B to B - Business to Business”. Tức là trước đây các Đảng giới thiệu nguồn lực tài chính cho ứng viên, kiểu Business to Business. Còn ngày nay, Obama chọn Business to Customer, tiếp cận trực tiếp với các cử tri, gây quỹ trực tiếp từ cử tri.

- Chính xác đó là việc ông ấy đã làm. Để nói về cách làm này là một câu chuyện dài, nhưng có thể thấy rằng ông có những khoản tiền nhỏ từ lượng khổng lồ những người đóng góp thay vì những khoản đóng góp khổng lồ từ một số ít người. Do đó, ông sẽ có xu hướng độc lập hơn, không ai có thể đến gặp ông và nói: ông phải làm như thế này, nếu không chúng tôi sẽ làm tổn thương sự nghiệp chính trị của ông. Ông sẽ có sự độc lập hơn trong các lựa chọn mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các nhóm này. Đó cũng là điều mọi người trông đợi.

Nội các mới lưỡng đảng và giàu kinh nghiệm

- Liệu nội các của tân Tổng thống sẽ được định hình ra sao. Ai là người được Obama lựa chọn, khi mà ông có vị trí độc lập tương đối so với đảng của mình?

- Tôi không thể nói chính xác ai sẽ nắm giữ vị trí nào trong nội các mới, nhưng sẽ là công bằng nếu nói, nhìn vào danh sách các cố vấn trong cuộc vận động tranh cử, những người mà Obama đánh giá cao, chúng ta có thể nhìn thấy được nội các tương lai.

Người phụ trách nhóm vận động tranh cử của Obama, nghị sỹ Rahm Emanuel từ bang Illinois, người được Obama xem là đồng sự, đã từng là cố vấn cấp cao của Tổng thống Bill Clinton ở Nhà Trắng. Ông Rahm Emanuel mang đến những kinh nghiệm ở mức độ mà bản thân Obama thừa nhận là mình không có được. Theo quan sát của tôi, Obama sẽ có xu hướng tìm đến những người nhiều kinh nghiệm như vậy để hỗ trợ cho mình.

TNS Joe Biden, "phó tướng" của Obama chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đáng kể trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong vấn đề đối ngoại. Joe Biden hiện là Chủ tịch Uỷ ban đối ngoại của Thượng viện và được xem là chuyên gia hàng đầu của Mỹ về quan hệ quốc tế, do đó, cùng với Ngoại trưởng, ông Joe Biden sẽ đóng vai trò tích cực trong xử lý các vấn đề đối ngoại, có các cuộc thảo luận, đối thoại quốc tế.

Ông Barack Obama cũng sẽ cố gắng có những người tham gia nội các là thành viên của đảng Cộng hoà hoặc các nhân vật độc lập. Ông có thể đưa ra một thông điệp rằng ông không phải là con người của đảng phái, tôi muốn có những người thực sự là tốt nhất để cố vấn cho tôi về những vấn đề chính trị có thể giải quyết tốt nhất.

Ông Obama sẽ có sự độc lập hơn các lựa chọn mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các nhóm lợi ích.

Và điều này đang diễn ra trên thực tế. Nhìn vào những người mà ông Obama gặp gỡ, trò chuyện, rõ ràng yếu tố đảng phái, hệ tư tưởng không nằm trong danh sách các vấn đề được đặt ra.

Truyền hình là bán buôn, còn Internet là bán lẻ

- Internet đã làm thay đổi nhiều thứ, và Obama đã đạt được nhiều từ Internet, như huy động được nguồn ngân sách khổng lồ, nhận được sự hỗ trợ rộng rãi từ những cử tri sử dụng Internet, giống như là quan hệ khách hàng của một DN. Tuy nhiên, nhiều người nói rằng, điều khá thú vị là sau huy động được nguồn tiền lớn từ Internet, phần lớn nguồn quỹ của Obama lại đổ vào cho các báo chí truyền thống: truyền hình và báo in. Ông nghĩ sao?

Nó cũng giống như là sự khác biệt của các hoạt động bán lẻ và bán buôn. Bán buôn thì bạn bán sản phẩm cho những nhà phân phối, những thứ có khi chưa hẳn đã cần thiết cho công chúng còn bán lẻ thì bạn chuyển sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng. Khách hàng sử dụng sản phẩm bao giờ cũng tìm đến người bán lẻ chứ không phải tìm người bán buôn để mua hàng.

TV muốn có bán buôn qua các quảng cáo, Obama muốn đưa các thông điệp qua các kênh truyền hình. Tuy nhiên, họ không kết thúc quá trình bán hàng. Quá trình bán hàng kết thúc với hoạt động bán lẻ, thông qua Internet, từng người một. Bạn là khách hàng mua lẻ, bạn lên Internet và kiểm soát việc thông tin nào bạn muốn tiếp cận và nếu bạn muốn đóng góp quỹ vận động tranh cử, bạn cũng là người kiểm soát hành động này. Đó chính là địa bàn của hoạt động bán lẻ. Ứng viên cần cả hai loại hình thành này.

Họ vừa cần có những dòng tin, những bài viết, những quảng cáo trên các chương trình truyền hình, các báo in danh tiếng, nhưng đồng thời, cũng cần kết thúc quy trình bán hàng với internet. Và chi phí cho truyền hình bao giờ cũng đắt hơn vì công nghệ quy định như thế.

- Trong tương lai, liệu Internet có đóng một vai trò lớn hơn?

Chắc chắn là như vậy.

- Liệu có một ngày nào đó, chi phí các ứng viên dành cho Internet và truyền hình tương đương nhau?

Tôi không nghĩ có sự ngang bằng ở đây. Bạn không bao giờ cần chi trả một khoản lớn như vậy để tạo sự kết nối toàn cầu thông qua Internet.

Theo kinh nghiệm làm báo của tôi, nếu bạn bán sản phẩm điện thoại di động và bạn muốn có không gian dành cho quảng cáo sản phẩm đó trên báo in và trên trang điện tử của tờ báo, bạn sẽ phải chi 12 USD cho báo giấy trong khi chỉ 1 USD cho quảng cáo trên sản phẩm điện tử với cùng một yêu cầu. Quảng cáo trực tuyến bao giờ cũng rẻ hơn. Do đó, bao giờ ứng viên cũng tốn khoản kinh phí lớn hơn cho báo chí truyền thống để tạo ảnh hưởng.

- Với mức phí rẻ hơn nhiều như vậy, làm sao các tờ báo trực tuyến tồn tại?

Họ không cần một khoản quá lớn để tồn tại. Báo điện tử và báo giấy cùng có tòa soạn với các phóng viên cần được trả lương. Tuy nhiên, báo giấy cần có những người điều hành hoạt động của máy in, mua giấy, mực, xe tải chuyên chở khắp các thành phố để đưa báo, và dĩ nhiên các xe này tiêu tốn năng lượng và bạn phải bỏ tiền chi trả. Với báo điện tử, bạn chỉ cần phòng tin và một số kỹ thuật điều hành, nghĩa là bạn sẽ không tiêu tốn quá nhiều để tạo nên cùng một lượng sản phẩm báo chí.

- Vậy các tờ tin điện tử phải xử lý ra sao với bài toán ngân quỹ của mình để có được những hợp đồng quảng cáo?

Hơn 10 năm trước, bạn phải chi hầu hết tiền cho truyền hình, một số rất ít cho báo giấy, và do chưa có Internet, bạn không phải tiêu tốn đồng nào cho nó. Vào thời điểm này, có thể bạn vẫn chi từng đó cho truyền hình và báo in, nhưng bạn vẫn cần Internet, không chỉ để quảng cáo mà còn là công cụ để kết nối, tìm và xác định tin tức... Số tiền bạn chi cho Internet, trực tiếp hoặc gián tiếp, chắc chắn sẽ tăng. Khi tiêu dùng cho Internet tăng, doanh thu của bạn cũng sẽ cải thiện rất nhanh.

Quan hệ giữa Tổng thống và báo chí thay đổi

Say sưa trao đổi, tranh luận...
(Hình ảnh trong cuộc bàn tròn trực tuyến ngày 10/11 tại VietNamNet)
Ảnh: Lê Anh Dũng


- Là người đã rất thành công trong việc sử dụng Internet trong quá trình tranh cử, theo ông, liệu ông Obama có tiếp tục xu hướng này trong thời gian cầm quyền và nếu có, cách thức triển khai sẽ như thế nào?

Ông ấy sẽ xây dựng trên những nền tảng sẵn có. Tôi đã đề cập trước đó về cách ông ấy thu thập tất cả các số di động khi ông tuyên bố sẽ gửi tin nhắn để thông báo về ứng viên liên danh cùng ông tham gia tranh cử Tổng thống.

Và bây giờ ông ấy vẫn có những số điện thoại đó và ông sẽ sử dụng công cụ đó để lôi kéo mọi người "can dự" cùng ông ấy và kết nối trực tiếp với người Mỹ khi ông có bất kỳ một chính sách mới nào. Có thể khi tuyên bố triển khai một chính sách, thay vì tổ chức họp báo hoặc tiếp xúc ở trung tâm báo chí của Nhà Trắng, ông sẽ gửi tin nhắn điện thoại. Cách truyền thông trực tiếp giữa Tổng thống và người dân sẽ là điểm thú vị trong thời gian tới.

Câu hỏi đặt ra là vị trí nào dành cho báo chí? Liệu báo chí có trở thành kẻ ngoài cuộc trong những tuyên bố chính sách hoặc bất kỳ cáo buộc nào về chính sách? Báo chí sẽ phải tìm cách để thu hút được sự quan tâm của tân Tổng thống và người dân Mỹ.

10 năm trước, Tổng thống phải thông qua báo chí để tiếp cận được với cử tri. Tổng thống không có vị trí bình đẳng trước báo chí, vì họ có thể có quyền lựa chọn đưa tin hoặc không đưa tin và Tổng thống theo cách nào đó bị phụ thuộc. Ngày nay, mối quan hệ này đã khác.

- Nghĩa là ông Obama không chỉ thay đổi truyền thông nước Mỹ mà có thể ông còn làm thay đổi cả cách thức quản lý, cách thức điều hành kinh doanh ví dụ ông có thể đến trường Kinh doanh Harvard, ông có thể xem xét lại những lí thuyết về quản lý, kinh doanh qua nghiên cứu chiến dịch tranh cử của Obama với việc tận dụng Internet?

Cách truyền thông trực tiếp giữa Tổng thống và người dân sẽ là điểm thú vị trong thời gian tới. (Ảnh: Lê Anh Dũng)

Đúng vậy, một chiến dịch vận động tranh cử không khác là bao so với một chiến dịch marketing sản phẩm. Những công cụ mà ứng viên Tổng thống sử dụng để tự rao bán mình cũng giống như công cụ mà các công ty dùng để bán sản phẩm. Chúng ta có thể học được từ điều đó và internet có vị trí quan trọng.

Từ chuột Mickey đến Tổng thống Mỹ

- Nhiều độc giả muốn tìm hiểu về cuộc đời làm báo của ông. Ông có thể chia sẻ những kỷ niệm sâu sắc về cuộc đời làm báo của ông?

Tôi rất vinh dự vì với nghề báo, tôi đã có cơ hội được gặp rất nhiều những con người thú vị, có cơ hội viết về những gì họ làm, tạo nên sự quan tâm của người Mỹ và cử tri Mỹ.

Tôi đã viết về rất nhiều Tổng thống, và tôi biết về nhiều vị rất rõ, như Jimmy Carter chẳng hạn. Tôi đã từng tới nông trại của Jimmy Carter ở Georgia, chúng tôi chơi bóng với nhau, đội của Tổng thống và đội của báo giới.

Theo một cách nào đó, tôi tự hào vì biết họ không chỉ trên tư cách Tổng thống, con người tại văn phòng, với công việc mà là con người bình thường, là chính họ trước khi là Tổng thống. Tôi nghĩ đó là điều thích thú khi trở thành nhà báo, trở thành nhân chứng cho nhiều câu chuyện lịch sử và viết về những câu chuyện đó, giúp mọi người được thấy như chính tôi thấy, hiểu được những nguyên nhân và cả những tác động đưa tới một quyết định của họ.

Tôi sẽ không đổi nghề báo với bất kỳ điều gì khác trên thế giới. Bây giờ, ở trường Truyền thông thuộc ĐH Boston cũng rất thú vị, khi tôi đào tạo những sinh viên, tương lai của nền báo chí. Tôi rất lạc quan về cách làm thế nào họ nắm giữ thế giới và cải thiện nó.

- Ông đã từng là TBT của tờ nhật báo hàng đầu nước Mỹ Miami Herald, và làm nghiên cứu về truyền thông ở ĐH Harvard. Trong suốt quá trình đó, câu chuyện đẹp nào ông muốn chia sẻ?

Thật khó để kể ra một câu chuyện đẹp. Những câu chuyện tôi thường kể là những chuyện làm tôi bối rối, khi làm một điều gì đó sai trái. Tôi sẽ kể về việc làm thế nào tôi trở thành một phóng viên chính trị.

Công việc đầu tiên tôi làm với tư cách nhà báo là tôi đến Orlando, Florida, có rất nhiều kỷ niệm và tới tòa soạn báo ở Orlando, Florida và đề nghị một công việc. Họ giao cho tôi viết về thế giới Disney, bởi đó là vào năm 1971, và Disney World sẽ mở vài tháng sau đó. Tòa soạn muốn thuê một người nào đó, một người trẻ như tôi viết về Disney World.

Công việc của tôi là đến khu vực Disney World, gặp và phỏng vấn rất nhiều người đến từ khắp nơi trên thế giới, và họ muốn đóng vai các nhân vật trong thế giới Disney, mặc những bồ đồ của Nàng Bạch tuyết, 7 chú lùn, Vịt Donald... Bài báo đầu tiên của tôi chính là viết về họ, những người muốn nhập vai các nhân vật của thế giới hoạt hình Disney.

Viết về Disney World, nhiều người chưa hiểu rằng nó không chỉ là một phần của Orlando, Florida mà là một thành phố trong lòng Florida. Họ có chính quyền, có Thị trưởng và Hội đồng lãnh đạo. Tôi bắt đầu viết về chính quyền của Disney World.

Và từ một người viết về Disney World, tôi bắt đầu đưa tin về hoạt động của chính quyền, rồi viết về chính trị và cuộc bầu cử Tổng thống của Mỹ. Cuộc bầu cử đầu tiên tôi bắt đầu viết là năm 1972. Kể từ đó, tôi tiếp tục viết về bầu cử Tổng thống trong suốt 25 năm.

Bài học tôi rút ra từ đó là bạn có thể bắt đầu từ việc viết về chú chuột Mickey để trở thành người viết về các vị Tổng thống, và có một sự kết nối trực tiếp từ chú chuột Mickey tới chính trị.

Văn hóa đại học: Cởi mở, đối thoại và tôn trọng khác biệt

- Từ làm việc trong một tòa soạn báo chuyển sang làm lãnh đạo một trường ĐH, nơi có những vị học giả với các bằng cấp cao, trong khi ông chưa có bằng tiến sỹ liệu có quá khó khăn với ông?

Thực ra một trường học cũng không khác nhiều với phòng tin. Ở trường ĐH có nhiều Giáo sư, thông minh, có những ý kiến đầy sức nặng và không có ý định thay đổi quan điểm của mình. Ở phòng tin cũng tương tự, với các phóng viên, biên tập viên và họ cũng đều rất thông minh, họ biết điều gì cần làm và quan điểm là gì, và bạn không cần phải dạy họ.

Ảnh: Lê Anh Dũng


Trong cả hai trường hợp, bạn đều phải thuyết phục họ điều bạn muốn họ làm là gì vì lợi ích của mỗi người. Làm Hiệu trưởng trường Báo chí, tôi nhận thấy mình cũng đang làm giống như vậy, nói với các giảng viên lí do tại sao tôi muốn họ làm như vậy, mục tiêu của tôi là gì, và tại sao tôi nghĩ mục tiêu này sẽ mang lại điều tốt đẹp cho trường ĐH Boston và cho trường Truyền thông. Tôi nói với họ, đừng chống lại tôi, và chúng ta sẽ tìm ra cách để làm. Làm việc ở trường ĐH thực sự rất thoải mái.

- Thực tế có những người từng có rất nhiều kinh nghiệm làm việc thực tế nhưng khi làm quản lý một môi trường học thuật họ đã bị phản đối rất nhiều. Larry Summer ở ĐH Harvard là một ví dụ, khi ông muốn thay đổi nhiều thứ. Ông nghĩ sao?

Tôi không thể nhận xét rằng những gì Larry Summer làm là đúng hay sai vì tôi không nắm rõ. Nhưng ĐH Boston có văn hóa khác với ĐH Harvard.

ĐH Harvard là nơi rất truyền thống, bảo thủ trong cách họ điều hành hoạt động. Các Giáo sư Harvard thường có xu hướng rất rõ ràng. Họ xem ngôi trường của mình là ngôi trường của sự chuyên nghiệp. Chúng tôi quan niệm ĐH Boston là nơi đào tạo sinh viên trở thành người chuyên nghiệp. Do đó, những người chuyên nghiệp sẽ làm việc một cách chuyên nghiệp.

Và tôi cũng không phải là nhân vật bên ngoài vào trường mà tôi là một người làm nghề chuyên nghiệp ở ngôi trường đào tạo chính nghề đó. Chúng tôi sẵn lòng mời những người bên ngoài trường ĐH đến nhận xét, khuyến nghị về những thay đổi và xem chúng tôi có thể làm gì đó để thay đổi dễ dàng hơn so với Harvard.

- Có lẽ đó cũng là điều nền giáo dục ĐH của Việt Nam cần tham vấn khi họ không chú trọng mời những người từ bên ngoài có kiến thức và tầm nhìn từ thực tiễn tới giảng dạy và quản lý thay vì chỉ chú trọng đến bằng cấp tiến sỹ?

Có 2 triết lý khác nhau về giáo dục ĐH, một là mô hình của Oxford và Cambrigde, môi trường chú trọng đào tạo khoa học xã hội. Hai là mô hình giáo dục ĐH của Đức, nơi đào tạo sinh viên trở thành chuyên gia trong lĩnh vực cụ thể.

ĐH Boston theo mô hình giáo dục ĐH của Đức, còn Harvard là thuộc mô hình Oxford. Trong Harvard, trường Kinh doanh Harvard là nơi duy nhất đào tạo để trở thành người làm việc chuyên nghiệp và mang văn hóa khác với văn hóa của Harvard.

- Đây là lần đầu tiên trở lại Việt Nam kể từ sau chiến tranh. Ông cảm nhận như thế nào?

Tôi trở lại Việt Nam vào một ngày rất đẹp, không mưa và thời tiết nắng đẹp. Tôi rất trông đợi được tới thăm Hà Nội để thấy năng lượng của thành phố này. Rất nhiều hoạt động, nhiều ngôi nhà đang được xây dựng và rất nhiều người trẻ, tất cả đều tràn trề sinh lực. Tôi hi vọng sẽ được sớm trở lại thăm thành phố này.

- Thời gian đã dài, chúng tôi xin dừng cuộc trực tuyến tại đây. Còn rất nhiều các câu hỏi của độc giả gửi về. Chúng tôi sẽ chuyển tới ông qua email và hi vọng sẽ nhận được câu trả lời của ông từ Boston. Cảm ơn ông đã dành thời gian trực tuyến với VietNamNet.

  • Tuần Việt Nam